Bạch cầu cấp dòng tủy

2021-07-07 16:59:23

Bạch cầu cấp dòng tủy (từ nay viết tắt là AML) là một bệnh ung thư của các tế bào máu và tủy xương. Bệnh ảnh hưởng đến một nhóm các tế bào bạch cầu được gọi là các tế bào tủy xương vì chúng được tạo ra trong tủy xương. Khái niệm “cấp” nghĩa là bệnh phát triển và tiến triển nhanh, đòi hỏi điều trị ngay lập tức.

1. Bạch cầu cấp dòng tủy là gì?

Bình thường, các tế bào tủy xương và các tế bào máu khác được sản xuất ra trong tủy xương (phần mềm ở trong giữa tủy xương) theo một các thức vận hành cẩn thận. Ở một số người mắc AML, quá trình này bất thường. Có một số lượng lớn các tế bào tủy xương bất thường và chưa trưởng thành được tạo ra, lấp dày khoang sinh tủy, và được tung vào dòng máu. Trong tình trạng chưa trưởng thành này, các tế bào này không thể thực hiện được chức năng bình thường của chúng.

2. Các triệu chứng của bạch cầu cấp dòng tủy?

Sự phát triển quá mức của các tế bào này dẫn tới một số lượng không đủ các tế bào khỏe mạnh, bình thường, bao gồm các tế bào bạch cầu, các tế bào hồng cầu, và các tiểu cầu. Điều này có thể dẫn tới:

  • Thiếu bạch cầu (số lượng bạch cầu trung tính thấp) – Các bạch cầu đa nhân trung tính là một loại bạch cầu giúp chống nhiễm trùng. Người bị thiếu bạch cầu dễ bị nhiễm trùng. Vì thế người bệnh có thể có các triệu chứng thường gặp như sốt, ho, tăng tiết đờm dãi.
  • Thiếu máu (số lượng hồng cầu thấp) – Các tế bào hồng cầu lưu hành trong các mạch máu và mang oxy đến các mô. Người không có đủ số lượng hồng cầu da có thể xanh tái và thường mệt mỏi và khó thở.
  • Thiếu tiểu cầu (số lượng tiểu cầu thấp) – Tiểu cầu là những tế bào nhỏ trong máu giúp phòng và ngừng chảy máu. Người có số lượng tiểu cầu thấp có thể bị chảy máu và thâm tím tự phát.
AML
Một số triệu chứng của bạch cầu cấp dòng tủy

3. Chúng ta có thể điều trị bạch cầu cấp dòng tủy như thế nào?

Rất nhiều các thuốc hóa chất có hiệu quả chống lại AML. Mục tiêu của điều trị là tiêu diệt các tế bào ác tính mà không là tổn thương các tế bào tủy xương lành còn lại.

Các biến đổi di truyền của các tế bào tủy xương bất thường rất thay đổi, điều này ảnh hưởng đến việc bạn đáp ứng điều trị thế nào. Việc điều trị của bạn có thể phải điều chỉnh dựa vào phân tích cẩn thận thay đổi di truyền của bạn. Nói chung những thay đổi di truyền này không được cho là do kế thừa từ đời trước mà là do phát triển tình cờ.

Việc điều trị AML tùy thuộc vào phân nhóm đặc hiệu của AML. Ví dụ, những người bị một thể AML cụ thể, còn gọi là “bạch cầu cấp tiền tủy bào”, có thể được điều trị bằng các thuốc khác. Việc điều trị cũng phụ thuộc vào tuổi của bạn và các bệnh lý đang có đi kèm khác.

Thường thì việc điều trị AML được chia thành 2 pha: tấn công tạo sự thoái lui và điều trị sau thoái lui.

3.1 Tấn công tạo sự thoái lui trong bạch cầu cấp dòng tủy

Pha đầu tiên trong điều trị được gọi là tấn công tạo sự thoái lui hoặc điều trị tấn công. Điều trị tấn công (bằng các thuốc hóa chất) được đưa ra với mục tiêu làm giảm số lượng tế bào bạch cầu bệnh lý xuống mức không thể phát hiện được và do đó giúp hồi phục việc sản sinh ra các tế bào máu bình thường.

Hóa trị nghĩa là dùng các thuốc để chấm dứt hoặc làm chậm lại sự phát triển và sống sót của các tế bào ung thư. Hóa trị nhằm vào các tế bào đang sinh trưởng, ngăn chặn khả năng phân chia, nhân lên của chúng. Do hầu hết các tế bào của người lớn bình thường thì không phát triển một cách chủ động nữa nên chúng không bị ảnh hưởng nhiều bởi hóa trị như các tế bào ung thư.

Tuy nhiên, các tế bào bình thường trong tủy xương (nơi mà các tế bào máu được sinh ra), các tế bào tóc và niêm mạc của ống tiêu hóa thì là các tế bào đang sinh trưởng. Tác động của hóa trị lên các tế bào này và các mô bình thường khác gây ra các tác dụng phụ trong quá trình điều trị, như rụng tóc, nôn, thiếu máu (số lượng hồng cầu thấp), làm tăng nguy cơ nhiễm trùng (số lượng bạch cầu thấp), và chảy máu (số lượng tiểu cầu thấp).

Điều trị hóa chất được thực hiện trong nhiều ngày và sau đó hạ bạch cầu sẽ tồn tại trong khoảng 3 tuần. Thường thì hầu hết truyền hóa chất phải thực hiện trong khi bạn nằm lại bệnh viện bởi vì cần phải chăm sóc hỗ trợ bằng kháng sinh đường tĩnh mạch và thường phải truyền máu.

Thoái lui hoàn toàn – Mục tiêu đầu tiên của điều trị AML là đạt được thoái lui hoàn toàn. Thoái lui hoàn toàn có nghĩa là không còn hiện diện các tế bào bạch cầu ác tính trong máu hoặc trong tủy xương, tủy xương đang có chức năng bình thường, và số lượng bình thường các tế bào máu khỏe mạnh trở lại trong dòng máu lưu hành. Cần phải sinh thiết tuỷ xương và xét nghiệm máu để xác định điều này.

Bạch cầu cấp dòng tủy
Người mắc bệnh bạch cầu cần được điều trị sớm

3.2 Điều trị sau thoái lui của AML

Điều trị sau thoái lui là nhằm tiêu diệt các tế bào bạch cầu ác tính còn sót lại trong tủy xương hoặc máu mà không phát hiện được ở mức vi thể.

Có 2 lựa chọn điều trị sau thoái lui cơ bản:

  • Điều trị hóa chất thêm, đôi khi còn gọi là điều trị củng cố sau thoái lui
  • Ghép tế bào gốc từ một người cho khỏe mạnh (ghép tế bào gốc dị ghép)

Điều trị sau thoái lui “tốt nhất” tùy thuộc và rất nhiều yếu tố, bao gồm việc AML của người bệnh tiến triển hoặc kháng với điều trị như thế nào. Người bệnh bị AML có thể được phân nhóm nguy cơ dựa vào các xét nghiệm di truyền của các tế bào bạch cầu ác tính của họ

Ghép tế bào gốc không được đề nghị cho tất cả các bệnh nhân AML. Các biến chứng nghiêm trong, thậm chí đôi khi là tử vong xảy ra khá thường xuyên hơn sau ghép tế bào gốc so với hóa trị. Trong một nhóm người bệnh cụ thể, không có lợi ích rõ rệt nào của việc ghép tế bào gốc so với hóa trị. Tuy nhiên, ghép tế bào gốc có thể phù hợp với một số người, chẳng hạn những người bệnh bị AML dạng rất tiến triển, mà có tái phát sau một thời gian thoái lui, và những người bệnh không đạt được thoái lui hoàn toàn sau điều trị tấn công ban đầu.

3.3 Điều trị AML ở người lớn tuổi

Nói chung, người bệnh hơn 60 tuổi không đáp ứng tốt với điều trị. Điều này liên quan đến một số yếu tố sau:

Các tế bào bạch cầu ác tính khó điều trị (kháng hóa chất) có thể hay gặp ở người lớn tuổi hơn. Điều này có nghĩa là AML ở người lớn tuổi có khuynh hướng hay kháng với các thuốc hóa chất chuẩn hơn.

Ở người lớn tuổi, sự có mặt của các bệnh đồng thời khác như tiểu đường, bệnh thận, phổi, tim mạch là tăng nguy cơ biến chứng liên quan đến điều trị.

  • Các quyết định điều trị AML cho người lớn tuổi tốt nhất là dựa trên cơ sở từng ca bệnh. Nên áp dụng các phác đồ bớt mạnh. Nếu những nguy cơ tiềm tàng của hóa trị lớn hơn lợi ích, thì nên đề nghị chăm sóc giảm nhẹ. Nói chung chăm sóc giảm nhẹ bao gồm truyền máu nếu thiếu máu hoặc chảy máu và dùng kháng sinh khi cần để điều trị nhiễm trùng.
AML
AML ảnh hưởng đến các tế bào dòng tủy, Anthony Baker, CMI, trung tâm Ung thư trường đại học bang Ohio

Bài viết tham khảo nguồn: Uptodate

Bài viết liên quan